Dưới đây là chi tiết đầy đủ của 62 kiến chấp (tà kiến) được Đức Phật thống kê và phân tích trong Kinh Phạm Võng (Trường Bộ Kinh):
I. Quá Khứ Luận (18 Luận Chấp)
Nhóm này gồm các kiến chấp dựa trên việc suy đoán hoặc hồi tưởng về quá khứ rồi chấp chặt vào đó.
  • Thường trú luận (4 kiến chấp): Chấp thế giới và bản ngã là thường còn, không thay đổi.
    • Kiến chấp 1: Do chứng thiền định, nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ (từ 1 đến hàng trăm ngàn đời) rồi kết luận bản ngã và thế giới là thường trú.
    • Kiến chấp 2: Nhớ lại được nhiều đời sống quá khứ qua nhiều thành hoại kiếp của trái đất (đến 10 thành hoại kiếp) rồi cho là thường trú.
    • Kiến chấp 3: Nhớ lại được đời sống quá khứ xa hơn (đến 40 thành hoại kiếp) rồi khẳng định thế giới là thường còn.
    • Kiến chấp 4: Không có thần thông nhưng dùng suy luận lô-gích, lý thuyết toán học để tuyên bố bản ngã và thế giới là thường còn.

  • Bán thường trú luận (4 kiến chấp): Chấp một phần là thường còn, một phần là vô thường.
    • Kiến chấp 5: Khi thế giới hoại diệt, một chúng sinh sinh vào cõi Phạm thiên trước, tưởng mình là tạo hóa, đấng chủ tể thường còn; các chúng sinh sinh sau vô thường.
    • Kiến chấp 6: Các thiên chúng bị sa đọa do ham chơi (Hý vọng uế thiên), nghĩ rằng những vị không ham chơi là thường còn, còn mình là vô thường.
    • Kiến chấp 7: Các thiên chúng bị sa đọa do tâm ý giận dữ (Ý phẫn uế thiên), cho rằng những vị không giận dữ là thường còn, còn mình là vô thường.
    • Kiến chấp 8: Dùng lý luận suy toán cho rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là vô thường; còn tâm, ý, thức là bản ngã thường còn.

  • Hữu biên vô biên luận (4 kiến chấp): Tranh luận về giới hạn của thế giới.
    • Kiến chấp 9: Cho rằng thế giới này có giới hạn (hữu biên), có chu vi rõ ràng.
    • Kiến chấp 10: Cho rằng thế giới này là vô tận, không có giới hạn (với biên).
    • Kiến chấp 11: Cho rằng thế giới theo chiều dọc thì hữu biên, theo chiều ngang thì vô biên (hoặc ngược lại).
    • Kiến chấp 12: Cho rằng thế giới không hữu biên cũng không vô biên, mọi suy luận đều sai.

  • Bất tử ngụy luận / Ngụy biện lươn lẹo (4 kiến chấp): Tránh né câu trả lời khi được hỏi về thiện, ác hoặc thế giới vì sợ sai, sợ dính mắc.
    • Kiến chấp 13: Sợ nói láo nên không dám khẳng định điều gì, trả lời quanh co như con lươn.
    • Kiến chấp 14: Sợ bị dính mắc, chấp thủ vào quan điểm nên trả lời lấp lửng.
    • Kiến chấp 15: Sợ bị các bậc trí giả cật vấn, chất vấn nên chọn cách ngụy biện quanh co.
    • Kiến chấp 16: Do ngu muội, đần độn nên ai hỏi gì cũng bắt chước trả lời “tôi không cho là vậy, cũng không cho là khác…”.

  • Vô nhân chí kiến / Vô nguyên luận (2 kiến chấp): Chấp thế giới và bản ngã tự nhiên sinh ra, không có nhân duyên.
    • Kiến chấp 17: Vị trời từ cõi Vô tưởng (không có tư duy) mạng chung sinh xuống nhân gian, không nhớ được quá khứ nên kết luận bản ngã tự nhiên mà có.
    • Kiến chấp 18: Dùng suy luận lý trí để tuyên bố bản ngã và thế giới tự nhiên hiện hành, không do nhân duyên nào cả.


II. Tương Lai Luận (44 Luận Chấp)
Nhóm này gồm các kiến chấp suy đoán về số phận của bản ngã sau khi chết.
  • Hữu tưởng luận (16 kiến chấp): Chấp sau khi chết, bản ngã có tưởng (có ý thức) và tồn tại vĩnh viễn dưới các trạng thái:
    • Kiến chấp 19: Bản ngã có sắc, sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 20: Bản ngã không có sắc, sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 21: Bản ngã vừa có sắc vừa không có sắc, sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 22: Bản ngã không phải có sắc cũng không phải không có sắc, sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 23: Bản ngã có hạn lượng (hữu biên), sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 24: Bản ngã vô hạn lượng (vô biên), sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 25: Bản ngã vừa hữu biên vừa vô biên, sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 26: Bản ngã không hữu biên không vô biên, sau khi chết có tưởng.
    • Kiến chấp 27: Bản ngã có một loại tưởng duy nhất.
    • Kiến chấp 28: Bản ngã có nhiều loại tưởng dị biệt.
    • Kiến chấp 29: Bản ngã có định tưởng (tưởng nhỏ hẹp).
    • Kiến chấp 30: Bản ngã có vô lượng tưởng (tưởng bao la).
    • Kiến chấp 31: Bản ngã hoàn toàn hưởng lạc sau khi chết.
    • Kiến chấp 32: Bản ngã hoàn toàn chịu khổ sau khi chết.
    • Kiến chấp 33: Bản ngã vừa hưởng lạc vừa chịu khổ sau khi chết.
    • Kiến chấp 34: Bản ngã không khổ không lạc sau khi chết.

  • Vô tưởng luận (8 kiến chấp): Chấp sau khi chết, bản ngã không có ý thức (vô tưởng) nhưng vẫn tồn tại vĩnh viễn.
    • Kiến chấp 35: Bản ngã có sắc, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 36: Bản ngã không có sắc, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 37: Bản ngã vừa có sắc vừa không có sắc, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 38: Bản ngã không phải có sắc không phải không có sắc, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 39: Bản ngã hữu biên, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 40: Bản ngã vô biên, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 41: Bản ngã vừa hữu biên vừa vô biên, sau khi chết vô tưởng.
    • Kiến chấp 42: Bản ngã không hữu biên không vô biên, sau khi chết vô tưởng.

  • Phi tưởng phi phi tưởng luận (8 kiến chấp): Chấp sau khi chết, bản ngã ở trạng thái mơ hồ, không phải có ý thức cũng không phải không có ý thức.
    • Các kiến chấp từ 43 đến 50: Kết hợp trạng thái “Phi tưởng phi phi tưởng” lần lượt với các thuộc tính: Có sắc, Không sắc, Vừa có vừa không sắc, Không phải có không phải không sắc, Hữu biên, Vô biên, Vừa hữu biên vừa vô biên, Không hữu biên không vô biên.

  • Đoạn diệt luận (7 kiến chấp): Chấp chết là hết, bản ngã hoàn toàn bị tiêu diệt.
    • Kiến chấp 51: Bản ngã cấu thành bởi bốn đại (đất, nước, gió, lửa) do cha mẹ sinh ra, chết là tan biến hoàn toàn.
    • Kiến chấp 52: Bản ngã thuộc cõi trời Dục giới, chết là đoạn diệt.
    • Kiến chấp 53: Bản ngã thuộc cõi trời Sắc giới (do tâm tạo), chết là đoạn diệt.
    • Kiến chấp 54: Bản ngã đạt đến Không vô biên xứ, chết là đoạn diệt.
    • Kiến chấp 55: Bản ngã đạt đến Thức vô biên xứ, chết là đoạn diệt.
    • Kiến chấp 56: Bản ngã đạt đến Vô sở hữu xứ, chết là đoạn diệt.
    • Kiến chấp 57: Bản ngã đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chết là đoạn diệt.

  • Hiện tại Niết-bàn luận (5 kiến chấp): Chấp sự thỏa mãn tối hậu ngay trong đời này chính là Niết-bàn tối thượng.
    • Kiến chấp 58: Cho rằng khi năm giác quan được thỏa mãn đầy đủ các dục lạc, đó chính là Niết-bàn tối thượng.
    • Kiến chấp 59: Cho rằng trạng thái ly dục, chứng và trú Thiền thứ nhất (Sơ thiền) là Niết-bàn tối thượng.
    • Kiến chấp 60: Cho rằng trạng thái định tĩnh, chứng và trú Thiền thứ hai (Nhị thiền) là Niết-bàn tối thượng.
    • Kiến chấp 61: Cho rằng trạng thái xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba (Tam thiền) là Niết-bàn tối thượng.
    • Kiến chấp 62: Cho rằng trạng thái thanh tịnh xả niệm, chứng và trú Thiền thứ tư (Tứ thiền) là Niết-bàn tối thượng.

Kết luận của Đức Phật
Đức Phật ví 62 tà kiến này như một tấm lưới bủa vây tất cả các nhà triết học, tư tưởng học và hành giả ngoại đạo. Dù họ có suy luận hay chứng đắc cao siêu đến đâu, nếu vẫn kẹt vào “Bản ngã” (Cái Tôi) thì vẫn nằm gọn trong tấm lưới này, tiếp tục luân hồi sinh tử. Bậc Giác Ngộ tu tập vượt ra ngoài tấm lưới bằng cách nhìn nhận mọi hiện tượng qua lăng kính Duyên sinh và Vô ngã.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *